Làm thế nào để dừng tin vào những ý nghĩ ngăn không cho bạn sống tự do và hạnh phúc (Phần 1)

Đa số mọi người tin rằng những sự kiện và hoàn cảnh trong cuộc sống là nguyên nhân gây ra nỗi buồn, sự tức giận, lo âu, nhưng thực tế không đúng.

Làm thế nào để dừng tin vào những ý nghĩ ngăn không cho bạn sống tự do và hạnh phúc (Phần 1)

Chúng ta đều muốn được hạnh phúc. Nhưng để theo đuổi được hạnh phúc thì trước tiên ta cần nhận diện và hiểu được nguyên nhân của bất hạnh của mình. Đa số mọi người tin rằng những sự kiện và hoàn cảnh trong cuộc sống là nguyên nhân gây ra nỗi buồn, sự tức giận, lo âu và cảm giác không đủ đầy. Đây là những gì chúng ta được dạy. Đây là cách chúng ta nhìn thấy bạn bè và những người thân trong gia đình và những nhân vật trong phim ảnh chạy theo hạnh phúc. Do đó, chúng ta cố gắng thay đổi hoàn cảnh sống của mình để tìm thấy hạnh phúc là lẽ tự nhiên.

Gần như tất cả mọi thứ trong cuộc sống của chúng ta có xu hướng tái xác nhận niềm tin rằng hoàn cảnh sống chính là nguyên nhân của hạnh phúc và khổ đau. Đối với phần lớn chúng ta thì niềm tin này quá mạnh và phổ biến tới nỗi chúng ta sống mà chẳng thèm hoài nghi về nó. Nhưng cuối cùng thì một số người đã đạt tới ngưỡng nhận ra rằng cách thức ta từng theo đuổi hạnh phúc là không mang lại kết quả.

Ý NGHĨ TẠO RA CẢM XÚC NHƯ THẾ NÀO

Tất cả cảm xúc được tạo ra bởi những ý nghĩ trong đầu bạn – những ý nghĩ về bản thân, về mối quan hệ của bạn, hoàn cảnh của bạn, quá khứ, tương lai của bạn – và mỗi cảm xúc có thể biến mất ngay lập tức nếu bạn dừng TIN những ý nghĩ đó là đúng.

Nếu một người lạ nói với bạn rằng “Thế giới sẽ chấm dứt vào ngày mai”, và bạn TIN HỌ, thì bạn sẽ cảm thấy thế nào? Bạn có nhiều khả năng sẽ thấy sợ hãi. Nhưng nếu bạn không tin họ thì lời nói của họ làm bạn cảm thấy thế nào? Bạn gần như chắc chắn không còn thấy sợ nữa. Nếu một đồng nghiệp nói với bạn “tôi đã xoá tất cả email của cậu” và bạn tin anh ấy, thì bạn sẽ cảm thấy thế nào? Bạn có thể tức giận. Nhưng nếu anh ta nói điều này với bạn mà bạn KHÔNG TIN anh ta vì anh ta lúc nào cũng đùa giỡn với mọi người, thì khi đó bạn cảm thấy thế nào? Bạn gần như chắc chắn không cảm thấy tức giận vì chẳng có gì để giận cả. Nếu bạn đang xem một cảnh bi kịch trong một bộ phim và bạn TIN CÁC DIỄN VIÊN ĐÓ, bạn sẽ cảm thấy thế nào? Bạn có thể cảm thấy buồn về những chuyện trong phim. Nhưng nếu bạn không tin các diễn viên đó, thì khi ấy bạn hầu như không buồn.

Những ví dụ đó cho thấy khi bạn tin vào lời nói của ai đó là đúng, thì chúng tạo ra những cảm xúc. Nhưng khi bạn không tin lời nói của ai đó, thì chúng sẽ không có khả năng tạo ra cảm xúc trong bạn.

Điều tương tự cũng đúng với những ý nghĩ trong đầu bạn. Nếu bạn tin vào một ý nghĩ tiêu cực về bản thân bạn hay cuộc đời bạn, thì ý nghĩ đó sẽ tạo ra một cảm xúc khó chịu. Tuy nhiên, nếu bạn không tin ý nghĩ đó thì nó sẽ không tạo ra cảm xúc khó chịu.

Hãy tưởng tượng bạn đi gặp bác sỹ để kiểm tra sức khoẻ, và khi bạn nhận được kết quả, bạn phát hiện ra mình mắc phải một căn bệnh nguy hiểm. Bạn nghĩ mình sẽ cảm thấy thế nào vào lúc đó? Bạn có thể cảm thấy tức giận, đau buồn, tuyệt vọng hoặc lo lắng. Điều gì đã tạo ra những cảm xúc đó của bạn vào lúc ấy? Có vẻ do chính căn bệnh tạo ra những cảm xúc đó. Nhưng, nếu bản thân căn bệnh tạo ra nỗi buồn, thì bạn đáng lẽ phải cảm thấy buồn ngay khi bạn mắc bệnh chứ. Nếu bạn không biết mình đã mắc phải căn bệnh nguy hiểm thì bạn có còn cảm thấy buồn, tức giận, tuyệt vọng, lo lắng về nó không? Không.

Mặc dù có vẻ những hoàn cảnh sống trực tiếp tạo ra cảm xúc của chúng ta, thì trên thực tế chúng ta không thể trải nghiệm bất kì cảm xúc gì trừ phi tâm trí chúng ta biết về hoàn cảnh. Nói cách khác, chúng ta không thể có một phản ứng cảm xúc trước một hoàn cảnh chừng nào chúng ta có những ý nghĩ về nó. Nếu bản thân một sự kiện trực tiếp tạo ra một cảm xúc không mong muốn, thì sự kiện sẽ tạo nên cảm xúc không mong muốn ngay khi nó xảy ra.

Nếu một người thân của bạn bị tai nạn xe trong lúc bạn đang ngủ, vậy khi nào bạn sẽ có một phản ứng cảm xúc trước sự kiện này? Bạn sẽ chỉ bắt đầu thấy buồn một khi bạn biết được chuyện gì đã xảy ra và có những ý nghĩ về nó. Nếu tổn thương do tai nạn ơr người thân của bạn (hoàn cảnh) trực tiếp tạo ra nỗi buồn của bạn, thì khi ấy bạn sẽ ngay lập tức cảm thấy buồn ngay khi sự kiện đó xảy ra. Nếu bạn không cảm thấy buồn cho đến khi bạn bắt đầu nghĩ về những gì đã xảy ra, thì khi ấy chính những ý nghĩ của bạn mới tạo ra nỗi buồn của bạn.

Khi còn bé, đa số chúng ta đều thấy hạnh phúc phần lớn thời gian. Nhưng khi lớn lên thì hầu hết chúng ta không còn hạnh phúc nữa. Vậy chuyện gì đã xảy ra với ta? Tại sao ta không còn thấy hài lòng nữa? Khá đơn giản, vì chúng ta đã học được nhiều khái niệm về “sự hoàn hảo”: con đường “đúng”, ta nghĩ mọi chuyện “nên như thế nào”, cái gì là “tốt nhất”, “hay”, “phù hợp”. Chúng ta được dạy những khái niệm đó một cách chính thức hoặc không chính thức bởi cha mẹ, giáo viên và bạn bè; chúng ta tiếp nhận chúng từ TV, phim ảnh.

Khi còn bé (dưới 6 tuổi), trước khi chúng ta học được đa số các khái niệm về những gì được gọi là “hoàn hảo” thì chúng ta không có thứ gì để mà so sánh. Không có một khái niệm “hoàn hảo” để so sánh nên chúng ta không có thói quen xem một khía cạnh nào đó ở bản thân, ở người khác hoặc hoàn cảnh sống của mình là “xấu” hay là “không đủ tốt”. Mọi sự chỉ là những gì nó đang là vậy thôi. Khi không có những ý nghĩ về “điều gì là không đủ tốt” trong cuộc sống của mình, cho nên ta cảm thấy tự do, hạnh phúc, đủ đầy.

Khi chúng ta hình thành nên nhiều khái niệm hơn về những cái gọi là “hoàn hảo” qua năm tháng, thì ta bắt đầu so sánh mọi thứ trong cuộc đời mình với những khái niệm đó. Chúng ta dán nhãn mọi thứ trong cuộc sống của mình – những hành động, lời nói, sự kiện, tình huống, tính cách cá nhân, cảm xúc, ngoại hình – là “xấu” hay “không đủ tốt”.

Ngay khi một ý nghĩ xuất hiện trong tâm trí ta nói rằng “có thứ gì đó chưa tốt” thì ta bắt đầu cảm thấy buồn bã hoặc thiếu thốn, như thể có điều gì đó bị thiếu trong cuộc sống của ta.

Hãy tưởng tượng bạn đang hạnh phúc với mối quan hệ hiện tại. Nhưng khi bạn chơi với vài đứa bạn và thấy số lần chúng đi chơi với người yêu nhiều gấp đôi bạn. Nếu bạn so sánh mối quan hệ của bạn với của đứa bạn thì bạn có thể cho rằng mối quan hệ của bạn là chưa “đủ tốt”. Ý nghĩ “mối quan hệ của tôi chưa đủ tốt” sẽ tạo ra cảm giác buồn bã và cảm thấy có thứ gì đó bị thiếu trong mối quan hệ của bạn. Và nếu bạn nghĩ người yêu của bạn phải chịu trách nhiệm cho sự khiếm khuyết này của mối quan hệ thì ý nghĩ này sẽ tạo ra cảm giác tức giận đối với anh ấy.

Thay vì nhận ra những cảm xúc thất vọng, tức giận của chúng ta được tạo nên bởi những ý nghĩ của ta, thì ta lại TIN rằng những cảm xúc đó được tạo nên bởi hoàn cảnh của ta (vd, mối quan hệ của chúng ta) là “xấu” hay “chưa đủ tốt”. Sự hiểu nhầm này khiến chúng ta cố gắng thay đổi hoàn cảnh của mình từ “chưa đủ tốt” thành “hoàn hảo” để ta hạnh phúc. CHÚNG TA KHÔNG NHẬN RA ĐÂY THỰC SỰ CHỈ LÀ MỘT NỖ LỰC NHẰM THAY ĐỔI NHỮNG Ý NGHĨ CỦA CHÚNG TA VỀ HOÀN CẢNH CỦA MÌNH TỪ “NÓ CHƯA ĐỦ TỐT” SANG “NÓ HOÀN HẢO”.

Khi còn bé, chúng ta vui vẻ và thoả mãn với việc sống một mình. Nhưng đến một lúc nào đó trong cuộc đời, chúng ta học được rằng hôn nhân là thiết yếu để sống hạnh phúc. Không cần biết niềm tin này đến từ đâu – bố mẹ của chúng ta, thầy cô giáo, các bộ phim – một khi ta tin rằng “hôn nhân là cần thiết cho hạnh phúc” thì ta cũng tự động tin theo “tôi không có một thứ gì đó tôi cần để hạnh phúc”. Điều này làm ta tin rằng “cuộc đời tôi không đủ tốt như cách nó đang là.” Ý nghĩ này tạo ra cảm giác buồn bã và cảm giác không đủ đầy.

Tiếp đó, chúng ta đổ lỗi những cảm xúc đó cho việc không có người bạn đời, thay vì nhận ra những cảm xúc đó được tạo ra bởi việc TIN vào ý nghĩ “hôn nhân là cần thiết cho hạnh phúc”. Niềm tin này làm chúng ta bắt đầu cuộc hành trình tìm kiếm người yêu để ta được hạnh phúc. Nhưng khi chúng ta tin rằng hôn nhân sẽ làm ta hạnh phúc thì ta cũng đồng thời tin rằng việc không tìm được người yêu sẽ làm ta bất hạnh (một kết quả “xấu”). Điều này làm ta cảm thấy sợ hãi rằng mình sẽ không bao giờ tìm thấy người yêu. Và rồi nếu ta không tìm thấy người yêu trước thời điểm ta nghĩ mình nên có người yêu thì khi đó ta sẽ nghĩ “tôi không nên vẫn còn sống độc thân”, nó sẽ khiến ta thấy buồn và xấu hổ.

Phụ thuộc vào nơi ta lớn lên và cách ta được dạy dỗ, chúng ta học được những quan điểm khác nhau về những gì mình cần để được hạnh phúc. Những quan niệm đó thường thể hiện qua những huyễn tưởng hoặc những niềm tin của chúng ta về thứ ta nên làm với đời mình. Những niềm tin phổ biến nhất đó là hôn nhân, tình yêu, có con, sự thành công, giàu có, những thành tựu lớn, danh tiếng, quyền lực, sự tôn trọng, hoặc du lịch vòng quanh thế giới sẽ làm ta hạnh phúc. Ngay khi chúng ta TIN rằng một thứ gì đó là chìa khoá cho hạnh phúc của ta, và ta không có được nó, thì chúng ta sẽ nghĩ rằng “Hoàn cảnh của tôi hiện tại không đủ tốt để được hạnh phúc” hoặc “Tôi cần thay đổi hoàn cảnh của mình để hạnh phúc”. Những ý nghĩ đó làm chúng ta cảm thấy có điều gì đó bị thiếu trong cuộc sống của ta.

Khi đó chúng ta ngây thơ đổ lỗi cho sự bất hạnh của mình là do hoàn cảnh không đủ đầy của ta, thay vì nhận ra chính NHỮNG Ý NGHĨ của chúng ta về hoàn cảnh đã tạo nên những cảm xúc đó. Khi điều này xảy ra, chúng ta bắt đầu theo đuổi những hoàn cảnh mà ta nghĩ mình cần có được để hạnh phúc.

BẢN SẮC CÁ NHÂN

Khi còn bé, trước khi chúng ta học được những quan điểm của “sự hoàn hảo”, chúng ta không nghĩ “Tôi chưa đủ tốt”. Chúng ta không cảm thấy mình khiếm khuyết hay chẳng đáng yêu. Chúng ta cũng không bận tâm về những ý kiến của người khác về mình. Khi ta lớn lên thì điều này thay đổi rõ ràng.

Để hiểu thứ gì đã thay đổi, trước tiên chúng ta cần hiểu được bản sắc (identity) của mình là gì. Bản sắc của chúng ta, hay còn gọi là hình ảnh bản thân (self-image), là câu trả lời cho câu hỏi “Tôi là ai?” hay “Tôi sẽ mô tả về bản thân như thế nào?” Một phần của những câu trả lời của chúng ta cho những câu hỏi đó bao gồm những sự thật về tuổi tác của ta, giới tính, học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, …. Tuy nhiên, bản thân những sự thật đó không phải là cái tạo ra bản sắc của chúng ta, cảm xúc hay sự tự tin của ta. Nền tảng cho hình ảnh bản thân của chúng ta và kéo theo đó là hạnh phúc hay bất hạnh của ta, là quan điểm của chúng ta về bản thân (những ý nghĩ của chúng ta về bản thân mình). Ví dụ, ngay cả nếu hai người cùng tuổi tác và cân nặng, học vấn, nghề nghiệp, thì một người có thể tự hào về bản thân anh ta, còn người khác thì lại xấu hổ về bản thân. Nói đơn giản là, bản sắc của chúng ta được tạo nên bởi những ý nghĩ.

Khi chúng ta so sánh bất kì khía cạnh nào của hình ảnh bản thân chúng ta với quan niệm về “sự hoàn hảo” và cho rằng nó là “xấu” hay “không lý tưởng”, chúng ta sẽ thấy buồn, xấu hổ, thậm chí trầm cảm.

Tất cả chúng ta đều có xu hướng có nhiều đặc điểm mà mình xem là “chưa hoàn hảo”. Vd, ta nghĩ “Tôi nên thành công hơn”, “Tôi không đủ thông minh”, “Tôi quá tẻ nhạt” hay “Cơ thể tôi không hấp dẫn”. Ngay khi chúng ta nghĩ bất kì ý nghĩ nào ở trên, chúng ta sẽ cảm nhận được những cảm xúc không mong muốn. Chúng ta đổ lỗi những cảm xúc đó cho những khiếm khuyết thay vì nhận ra những cảm xúc đó chỉ được tạo ra bởi ý nghĩ “Có một thứ gì đó ở tôi là chưa đủ tốt.”

Sự nhầm lẫn này khiến chúng ta cố gắng “cải thiện” hình ảnh bản thân thành “hoàn hảo” để làm mình hạnh phúc.

Làm thế nào để dừng tin vào những ý nghĩ ngăn không cho bạn sống tự do và hạnh phúc (Phần 1)_02

ĐÂU LÀ NHỮNG SỰ THẬT VÀ ĐÂU LÀ NHỮNG Ý NGHĨ CỦA TÔI VỀ NHỮNG SỰ THẬT?

Nhìn chung chúng ta không nhận ra nó, nhưng chúng ta liên tục hình thành nên những ý nghĩ về những hoàn cảnh sống và sau đó xem những ý nghĩ đó là một phần của sự thật. Ví dụ, chúng ta có thể nghĩ “Tôi thật xấu xí”, “Anh ta là kẻ đê tiện”, “Tình huống này quá kinh khủng”, “Hành động của cô ta là không thích hợp” hay “Anh ấy không biết ơn tôi”. Chúng ta nhìn chung xem những ý nghĩ đó không khác biệt gì so với những sự thật như “Tên cô ấy là Lan”, “Đó là một quả táo”, “Ngôi nhà của tôi màu đỏ” hay “Tôi cao 1,8m”. Chúng ta ngây thơ và thường vô tình nghĩ rằng những ý nghĩ đó là sự thật và sau đó kết luận rằng cảm xúc của mình được tạo nên bởi những “sự thật” đó. Tuy nhiên, những ý nghĩ được nói đến ở trên không phải là sự thật. Chúng chỉ là những ý nghĩ về sự thật.

Tưởng tượng bạn đang xếp hàng chờ mua cafe, và sau đó một người đàn ông đến nõi với bạn “Tránh ra cho tôi”, anh ta đang cố chen lấn để đến khi vực có chỗ ngồi. Bây giờ tưởng tượng việc xô xát này khiến bạn hơi tức giận với anh ta. Điều gì đã tạo nên cơn giận của bạn ở tình huống này? Đa số chúng ta sẽ nghĩ rằng “Lời nói thiếu tôn trọng của anh ta làm tôi tức giận”. Nói cách khác, dường như bản thân sự thật tạo ra cơn giận của chúng ta. Nhưng đâu là sự thật và đâu là những ý nghĩ của chúng ta về sự thật? Sự thật là những từ “Tránh ra cho tôi”. Có vẻ những từ của anh ta thực sự thiếu tôn trọng; những từ của anh ta chỉ là những từ ngữ, hoàn toàn trung lập. Do đó, anh ta không nói “những từ thiếu tôn trọng”; mà chúng ta đã có một ý nghĩ về những từ anh ta nói “Nó thật thiếu tôn trọng”.

Những ý nghĩ của chúng ta không liên quan gì đến những từ anh ta nói (sự thật). Chúng là những thứ riêng biệt nhau. Chúng tồn tại ở hai nơi hoàn toàn riêng biệt. Những từ của anh ta được nói trước mặt chúng ta và được phát hiện thông qua các giác quan của chúng ta, trong khi đó, ý nghĩ của chúng ta “thật là thiếu tôn trọng” chỉ tồn tại như một khái niệm trong tâm trí chúng ta. Cảm xúc của chúng ta được tạo nên bởi khái niệm (ý nghĩ), không phải bởi sự thật. Cảm xúc của chúng ta được tạo nên bởi những gì đang diễn ra trong tâm trí chúng ta, chứ không phải bởi những gì đang diễn ra trước mặt chúng ta. Cơn giận của ta bị gây ra bởi ý nghĩ “thật là thiếu tôn trọng”, chứ không phải bởi những từ “Tránh ra cho tôi”. Nếu chúng ta không có ý nghĩ này về những từ của anh ta thì chúng ta sẽ không có phản ứng cảm xúc với chúng.

Chúng ta luôn luôn dán nhãn mọi người, những hành động, lời nói, những tình huống và sự kiện là “xấu”, “không đủ tốt” hay “sai trái”. Chúng ta nói “Cô ấy thật tẻ nhạt” và “Cô ấy xấu xí” như thể chúng là sự thật. Rồi sau đó chúng ta có phản ứng cảm xúc với những cái nhãn đó, và chúng ta đối xử với bản thân và người khác dựa theo những cái nhãn ấy. Nhưng đâu là sự thật và đâu là những ý nghĩ của chúng ta về sự thật? Một cô gái không thể nào “tẻ nhạt” hay “xấu xí”. Nhưng khái niệm đó không phải là một phần của sự thật. Một người nào đó chỉ có thể thực hiện những hành động hoặc nói câu gì đó, và ý nghĩ của chúng ta sau đó dán nhãn cho chúng là “tẻ nhạt” hoặc “gây bực mình”. “Tẻ nhạt” và “gây bực mình” không nhìn thấy được và sờ được. Chúng chỉ tồn tại như những ý nghĩ trong đầu óc chúng ta.

Có vẻ “xấu xí” có thể nhìn thấy và chạm vào được. Nhưng hãy nghĩ về nó, một khuôn mặt, đôi mắt, cái mũi và mái tóc có thể nhìn thấy và chạm vào. Chúng không “xấu xí”, chúng chỉ là những bộ phận cơ thể. Sau khi chúng ta nhìn thấy một bộ phận cơ thể thông qua các giác quan của chúng ta thì sau đó ta có ý nghĩ “cái mũi của cổ xấu quá.” Mũi của cô ấy không thể “xấu”, mũi của cô ấy chỉ có thể là cái mũi của cô ấy. “Xấu xí” chỉ là một ý nghĩ về cái mũi của cô ấy. Ý nghĩ của chúng ta hoàn toàn tách biệt với sự thật.

Những sự thật là những gì chúng ta biết là thật. Những gì chúng ta trải nghiệm trực tiếp thông qua các giác quan của chúng ta là những sự thật. Những sự thật là thực tại. Sau đó chúng ta thêm vào những quan điểm của chúng ta về “tốt” và “xấu”, “đúng” và “sai”, “nên” và “không nên” lên thực tế và cho rằng những quan điểm đó là sự thật. Những sự thật thì hoàn toàn TRUNG LẬP. Thực tại không có quan điểm. Chẳng có thứ gì là thực sự “xấu” hay “không đủ tốt” và không có thứ gì “phải nên” theo một cách nào đó, vì những sự thật không chứa đựng quan điểm trong chúng.

Một khi ta có thể nhìn thấy một phần của cái mà ta xem là sự thật trên thực tế chỉ là những ý nghĩ của ta về sự thật, thì khi đó chúng ta có thể bắt đầu nhận ra những cảm xúc của mình được tạo ra bởi những ý nghĩ của chúng ta, chứ không bởi sự thật. Chỉ khi đó ta mới có thể bắt đầu đặt câu hỏi liệu những ý nghĩ của mình có thật sự đúng. Thực tế chính là sự tự do. Chỉ có ý nghĩ của ta về thực tế mới tạo ra mọi khổ đau và bất mãn của chúng ta.

Nhận ra cảm xúc của bạn trên thực tế được tạo ra bởi một ý nghĩ, và không phải bởi những hoàn cảnh sống của bạn, là một bước tiến lớn đến tự do. Nhìn thấy điều này thường làm suy yếu niềm tin của bạn vào ý nghĩ của bạn, và có thể làm suy yếu cảm xúc mà nó kéo theo.

Nếu bạn có thể nhận ra ý nghĩ của bạn đã tạo nên khổ đau cho bạn, thì bạn có thể dừng đổ lỗi cho người khác, cho hành động, sự kiện hay hoàn cảnh nào mà bạn nghĩ là nguyên nhân gây đau khổ cho bạn. Ngộ ra điều này có thể giải phóng ta khỏi phần lớn bực giận trong cuộc sống.

Khi chíng ta không kiểm soát được nhiều hoàn cảnh hay sự kiện trong cuộc sống chúng ta thì có vẻ như ta cũng không kiểm soát được cảm xúc của mình. Điều này có thể làm ta cảm thấy mình bất lực. Chúng ta cảm thấy mình là nạn nhân của cuộc sống. Nhưng nếu bạn có thể nhận ra những ý nghĩ của bạn là nguyên nhân gây khổ đau cho bạn thì khi đó bạn không còn bất lực nữa. Bạn không còn là nạn nhân. Bạn giờ đây đã có chút quyền kiểm soát. Điều này có nghĩa là không có hoàn cảnh nào, sự kiện hay con người nào có sức mạnh gây đau khổ cho bạn.

Làm thế nào để dừng tin vào những ý nghĩ ngăn không cho bạn sống tự do và hạnh phúc (Phần 1)_03

NHỮNG Ý NGHĨ-TÂM LÝ TẠO RA ĐAU KHỔ

Chúng ta hầu như lúc nào cũng suy nghĩ. Những ý nghĩ của chúng ta rơi vào hai loại chính: những ý nghĩ thuộc tâm lýnhững ý nghĩ thuộc chức năng.

Những ý nghĩ thuộc tâm lý là những ý nghĩ xác định xem liệu một thứ gì đó là “tốt” hay “xấu”, và chúng là những ý nghĩ tạo nên đau khổ của chúng ta. Nói đơn giản là, những ý nghĩ thuộc tâm lý của chúng ta gần như là những ý nghĩ chứa đựng những sự đối lập. Bởi vì nếu một ý nghĩ có sự đối lập thì khi đó chúng ta sẽ xem một khía cạnh nào đó là “tốt” và mặt đối lập của nó là “xấu”. Ví dụ, nếu chúng ta nghĩ trở nên giàu có, vui vẻ, mảnh mai, thông minh là “tốt” thì khi đó ta sẽ xem nghèo, buồn chán, thừa cân, không thông minh là “xấu”. Tâm trí chúng ta có xu hướng đầy ắp những ý nghĩ thuộc tâm lý như thế, chúng lặp đi lặp lại mãi.

Những ý nghĩ thuộc chức năng là những câu trả lời cho câu hỏi “Làm sao tôi làm điều đó?” Nhưng ý nghĩ thuộc chức năng xác định xem làm thế nào để xây dựng một thứ gì đó, làm thế nào để đi đến nơi nào đó, hay làm thế nào để xử lý một vấn đề cụ thể nào đó trong công việc. Những ý nghĩ thuộc chức năng không tạo ra đau khổ, mà chỉ những ý nghĩ thuộc tâm lý mới tạo ra đau khổ. Tuy nhiên, những ý nghĩ đó thường bị xen vào với những ý nghĩ như “thật tệ nếu tôi không hoàn thành xong nhiều việc như tôi muốn.” Những ý nghĩ đó thường tạo ra những cảm xúc khó chịu.

Comments are closed.

-->